Vài kinh nghiệm trong việc khảo cứu niên đại các vị thủy tổ, tiên tổ

Email In

Vì tôi chưa biết có tiền đề nào hay luận điểm nào ghi trong gia phả học, có thể vận dụng chung cho tất cả các dòng họ, nên ở đây tôi chỉ xin phép gói gọn trình bày những kinh nghiệm chúng tôi đã vận dụng trong dòng họ chúng tôi. Tuy nhiên nhờ có chút ít vốn kiến thức Hán Nôm và văn sử tôi đã được hân hạnh khảo cứu và biên dịch nhiều gia phả khác, thấy các phả khác cũng có những nét tương tự, nghĩa là: gia phả qua nhiều đời tiên tổ không ghi được năm sinh năm mất nên qua đó khó tìm được những kinh nghiệm dưới đây mong giúp ích phần nào công trình khảo cứu biên soạn gia phả của các dòng họ.

Kinh nghiệm khảo cứu niên đại các tiên tổ

Trong bài báo này chúng tôi xin lấy dẫn chứng cụ thể đã tiến hành trong dòng họ chúng tôi để chứng minh cho lập luận, ngoài ra cũng có một số dẫn chứng đã tiến hành ở các dòng họ khác hùng hồn hơn nhưng phải hạn chế để đỡ rườm.

1. Khi một vị tiên tổ không có năm sinh xác định, ta có thể dựa vào danh nhân lịch sử tức là các vị có học vị, có chức vị lớn trong quốc sử, để so ngang sánh dọc tìm mối quan hệ thân thuộc, qua đó tìm phạm vi năm sinh ước lượng.

Thí dụ: Họ chúng tôi có tổ ngoại là Tiến sĩ Trần Dực có năm sinh xác định 1465, năm mất 1542 (xem Các nhà khoa bảng Việt Nam) hay năm mất 1512 (xem Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch). Giám sinh Lê Quang Túc (đời bảy) con rể Trần Dực phải sinh trước 1515 (năm Trần Dực 60 tuổi nếu còn sống đến 1542) hoặc trước 1512.

So ngang thì Phan Tuấn Vĩ bạn đồng hao lấy chị có năm sinh xác định là 1489. Quang Túc lấy em gái út phải sinh sau 1490. Từ đó tính phạm vi năm sinh của Quang Túc là 1495-1525.

2. Trường hợp gia phả có ghi năm sinh năm mât theo lịch can chi. Đó là điềm may mắn để tìm năm xác định theo dương lịch. Nếu có ghi dưới triều vua nào thì đơn giản dễ dàng đổi ngay sang dương lịch, ngặt vì lịch can chi theo chu kỳ 60 năm quay lại một vòng. Thí dụ: năm Canh Thân dưới triều Lê là 1440, 1500, 1560, 1620, 1740, dưới triều Tây Sơn là 1800, dưới triều Nguyễn là 1860, 1920, vậy biết Canh Thân nào? Không tính toán cẩn thận dễ nhầm lẫn, có khi tuổi con cao hơn tuổi bố. Câu chuyện vui ở miền Nghệ Tĩnh chúng tôi: “Con tuổi Ngọ, bọ tuổi Mùi, con hơn bọ một tuổi” là vì 24 hay 36 tuổi đẻ con, nếu tính tuổi theo năm hàng chi thì đúng là con hơn bọ một tuổi; ông bà 61 tuổi có cháu, thì cháu cùng một tuổi với ông bà.

Họ Lê chúng tôi từ đời Thủy tổ là Lê Bôi, đến đời 12, gia phả không ghi được năm sinh năm mất của vị nào. May mắn có một đị đời 9 chi thứ 3 là Lê Nhuận Tri phủ Tĩnh Gia có ghi sinh năm Giáp Dần, nhưng Giáp Dần nào 1554, 1614 hay 1674 v.v… Chúng tôi phải từ cháu trực hệ đời thứ 18 sinh năm 1917 tính trở lên, xét theo quan hệ cha con, ông cháu cách nhau bao nhiêu năm thì hợp lý, cuối cùng lần theo năm can chi của 1 số đời sau mà xác định được Lê Nhuận sinh năm 1614.

3. Từ vị tiên tổ có năm sinh xác định, mà dựa theo số năm bình quân từng đời, tiín lần lên ước lượng phạm vi năm sinh các tiên tổ đời cao cho đến đời Thủy tổ - Tính xuống cũng vậy.

Vậy một đời bình quân là bao nhiêu năm?

Nên nhớ cách tính đời con người khác với đời con tằm. Con tằm từ trong kén chui ra hóa thành con ngài, sau khi đẻ trứng thì ngài chết, trứng nở rồi tằm lớn lên qua từng giai đoạn đến lúc tằm chín, nhả tơ, làm kén sau đó hóa thành ngài chui ra khỏi khén coi như một vòng đời.

Con người có khi tứ, ngũ đại đồng đường (bốn, năm đời cùng sống chung, cùng ở chung một nhà) sinh con trai đầu lòng tính là một đời, có cháu đích tôn tính là hai đời, có chắt trưởng nam tính là 3 đời. Thông thường, 20 tuổi có con, 40 tuổi có cháu, 60 tuổi có chắt, nhưng đầu lòng có thể là con gái, hơn nữa phải trừ đi những trường hợp hữu sinh vô dưỡng, nên cách tính bình quân là 25 – 28 năm một đời. Thời xưa có nhiều vùng có tập tục tảo hôn, nữ thập tam, nam thập lục, có thể sinh con sớm hơn chút ít, song tuổi hôn nhân và tuổi phát dục theo sinh lý khác nhau, phụ nữ ít có trường hợp sinh con dưới 18 tuổi. Vì vậy có thể dùng 25-28 tuổi làm tuổi bình quân để ước luợng phạm vi năm sinh.

Phương pháp ước lượng phạm vi năm sinh trung bình từng đời nhân với số đời được xác định là phương pháp chủ yếu, nhưng khoảng cách đời càng nhiều thì phạm vi ước lượng càng rộng, nên phải kết hợp dùng các biện pháp tìm tư liệu ngoại diên khác để điều chỉnh cho hợp lý (sẽ trình bày tiếp ở điểm 4, 5).

Như đã trình bày khi vào đề, tôi xin phép dùng “Bản khảo cứu niên đại các vị tiên tổ họ Lê xã Việt Yên” (trích trong cuốn “Khảo cứu về Thủy tổ Lê Bôi” đã được Bộ Văn hóa chấp nhận và cấp bằng chứng nhận Di tích lịch sử Lê Bôi năm 1995) làm dẫn chứng.

Chấp lệnh công Lê Bôi thủy tổ họ Lê Việt Yên chúng tôi có phải là Thiếu úy Lê Bôi khai quốc công thần thời Bình Định Vương Lê Lợi hay không? Tất nhiên còn phải so sánh đối chiếu nhiều cứ liệu lịch sử khác đã được xác minh rõ ràng mới được nhà nước công nhận. Ở đây chúng tôi chỉ xin tóm tắt vài điểm riêng về mục khảo cứu niên đại: Phạm vi năm sinh năm mất của Lê Bôi trong gia phả và trong quốc sử có khớp nhau hay không?

Từ Lê Nhuận đời 9 có năm sinh xác định là 1614 tính lên đến Thủy tổ Lê Bôi có khoảng cách 1-9 là 8 đời. Nếu tính bình quân 20 năm, 25 năm; 30 năm một đời thì kết quả như sau:

Nếu tính

20 năm/đời

25 năm/đời

30 năm/đời

Lê Nhuận

1614

1614

1614

Ngược lên 8 khoảng đời

- 160

 

- 200

-240

Lê Bôi sinh khoảng

1454

1414

1374

Lê Bôi sinh khoảng 1374 – 1454. Như vậy khoảng cách còn quá rộng phải tìm thêm các tư liệu ngoại diên khác (xem Tiểu mục 4, 5, 6 tiếp theo) để loại trừ những chỗ không hợp lý.

Sau khi đối chiếu với các tư liệu lịch sử và so ngang sánh dọc với gia phả các họ khác có quan hệ thông gia nội ngoại từ đời 1 đến đời 8 loại trừ những khoảng cách bất hợp lý trong cuốn khảo cứu về Thủy tổ Lê Bôi chúng tôi được phạm vi năm sinh của Lê Bôi: 1375 – 1385.

Nếu lấy năm 1380 làm năm sinh xác định thì Từ Lê Bôi đến Lê Nhuận là:

  1614-1380/2=29 năm một đời

Sở dĩ 29 năm vì Lê Ất bố Lê Nhuận là con út của Quang Túc, Quang Túc là con thứ 2 của Lê Trĩ, Lê Trĩ là con vợ thứ của Lê Chưởng. Như vậy tính bình quân đời 25 – 28 năm cũng phù hợp.

Đối chiếu với Thiếu úy Lê Bôi trong quốc sử năm 1424 xuất hiện trong trận Khả Lưu Bồ Ải ở đạo Nghệ An là một viên dũng tướng trẻ tuổi khoảng 44 tuổi, năm 1427 (triều Trần tức Trần Thiên Khánh do Lê Lợi lập nên) ông từ Thượng tướng lên Thiếu úy chấp lệnh khoảng 47 tuổi về nghỉ vì bệnh trúng phong năm 1432 tức là đã ngoại 50, 17 năm sau tức 1449 vào chầu vua Nhân Tông được ban thưởng 20 quan tiền ở lúc tuổi 70, chỉ ít năm sau thì ông mất thọ ngoại 70 tuổi. Chính nhờ khảo cứu niên đại mới xác định được Chấp lệnh công Lê Bôi trong gia phả chính là Lê Bôi trong quốc sử.

4. So sánh đối chiếu các tư liệu trong quốc sử

Thí dụ: Đời 2 Lê Thực con Lê Bôi là Hương cống khai khoa. Từ 1434 triều Lê Thái Tông mới có học vị Hương cống. Vậy Lê Thực đậu Hương Cống từ 1434 trở về sau, như vậy năm sinh của Lê Thực phải từ 1395 trở về sau.

Đời 3 Lê Tử Chiêu làm quan Tri công giám quan bộ Công. Bộ Công mới được thành lập dưới triều Lê Thánh Tông từ 1467. Vậy Tử Chiêu phải sinh sau năm 1410.

Đời 4: Lê Đức Mục làm Khâm sai Thủ ngự sứ xứ Sơn Man. Mà xứ Sơn Man trước kia thuộc đất tự trị mới được Lê Thánh Tông thu phục và đặt lưu quan từ năm 1473. Vậy Đức Mục phải sinh sau năm 1420 để không quá già khi làm Thủ ngụ sử.

Đời 5: Lê Chưởng làm Quản lĩnh Tiết độ sứ xứ Thuận Hóa, mà Sở Thủ ngự xứ Thuận Hóa mới được đặt từ triều vua Cảnh Thống (1498-1501). Vậy Lê Chưởng phải sinh sau 1440 để khi làm Thủ ngự sử không quá già.

Đời 6: Lê Trĩ được Sinh đồ trong phủ lập làm Toát phủ. Có thể chỉ là hiện tượng dân cử sơ khai tạm thời trong buổi ban đầu thời Nam Bắc triều khoảng 1533. Vậy Lê Trĩ sinh vào khoảng năm 1500.

Tức các sự kiện lịch sử mà phán đoán phạm vi năm sinh, còn nhiều thí dụ khác.

5. Tìm trong gia phả các họ khác cùng quê có quan hệ thông gia nội ngoại có thể có nhiều tư liệu bổ sung. Vì thời xưa ở các vùng nông thôn, quanh năm suốt đời trong nền kinh tế tự cung tự cấp ít ai đi xa. Quan hệ hôn thú đại bộ ở cùng quê nên quan hệ nội ngoại phần lớn được phản ảnh trong gia phả. Vì vậy qua gia phả họ khác ta có thể so ngang sánh dọc tìm được phạm vi năm sinh của các đời tiên tổ họ mình.

Thường trong gia phả các họ, có ghi: anh Giáp con ông A đời X họ Phan lấy thị Ất con ông B đời Y họ Lê sinh hạ được Tý, Sửu, Dần, Mão… Nếu một trong những người có tên trên có năm sinh, xác định có quan hệ với tiên tổ họ ta thì ta có thể so ngang sánh dọc, đoán được phạm vi năm sinh.

Nhờ khảo cứu gia phả các họ cùng quê mà họ Lê chúng tôi tìm được nhiều tư liệu rất bổ ích như đã nêu rõ trong bản khảo cứu về Thủy tổ Lê Bôi. Ngoài ra chúng tôi có hai tiểu chi ở ngay trong xã gia phả thất lạc, con cháu trong họ nhờ khảo cứu các gia phả các họ lận cận mà lập lại được gần như hoàn hảo các đời của tiểu chi, một tiểu chi khác phục hồi được gần 10 đời chỉ còn bỏ trống khoảng 5 đời.

6. Tìm các tư liệu bằng chứng khác để bổ sung.

Ngoài 5 nguồn trên, có thể còn có các tư liệu bằng chứng khác cũng giúp ích cho chúng ta khảo cứu niên đại: như thần phả, khế ước, hoành phi, câu đối ở nhà thờ, đền miếu, văn bia và các địa danh lịch sử của từng địa phương, các giáy tờ chữ Hán và các lá số tử vi còn sót lại ở các gia đình cũng có thể gợi cho ta biết được niên đại.

Thí dụ: Đời ông đậu Hiệu sinh, không nói rõ khoa nào đời cháu đậu Tú tài cũng không nói rõ khoa nào, mặc dù Hiệu sinh cũng tương đương Tú tài nhưng học vị đó mang tính thời đại, cho ta biết ông sinh vào cuối triều Lê, đậu Hiệu sinh dưới triều vua Cảnh Hưng trước năm 1789, cháu sinh đầu triều Nguyễn đậu Tú tài dưới triều vua Minh Mạng khoảng năm 1820-1839.

- Thí dụ xem hoành phi câu đối thường có ghi năm cúng tiến và người cúng tiến, khảo cứu xem người đó có quan hệ thơ từ xướng họa hoặc thông gia bà con gì với các vị tiên tổ họ ta không, nếu có thì ta biết được phạm vi năm sinh (sống cùng thời).

- Thí dụ xem trong khế ước, hoành phi, câu đối hoặc các văn bản hành chính đôi khi một số chữ phạm húy cũng có thể mách bảo cho ta biết người viết sống vào thời đại nào. Thí dụ kiêng chữ Hoa 花   viết thành chữ Ba 葩 tức là viết sau năm 1840 triều vua Thiệu Trị, chữ Thìn 辰 thay cho chữ thời 時, tức là viết sau năm 1874 triều vua Tự Đức. Bia Tiến sĩ khoa Quý Mùi (1583) chữ Trần Phúc Hữu có chữ 陳  Trần viết đảo ngược 東 +1/2阿 chứng tỏ Trần Phúc Hữu đậu Tiến sĩ vào thời Lê Sơ. Họ Trần vị phạm húy phải đổi sang họ Trình. Trần Phúc Hữu khi nạp hồ sơ đi thi đã phải khai sinh như tên trên.

Xem bài “Hùng Vương thập bát thế truyền” có chữ Thành viết thêm nét 成 trở thành (人 人 人  trên 成  dưới) chữ này không có trong tự điển nhưng vì Thành là tên húy của Lê Thánh Tông. Chứng tỏ người viết bài này sống dưới thời Lê Sơ.

- Họ Lê chúng tôi có một chi ở xã Sơn Trà, Thủy tổ chi đó được phong Hầu có đền thờ nên ở Sơn Trà có cánh đồng Hầu, giếng Hầu, nhà thờ Hầu. Địa danh đó mách bảo được thời đại.

- Quanh mộ Thủy tổ có cánh đồng “Chập Trành” có thể là tiếng “Chấp lệnh” qua quá trình biến âm.

- Lá số tử vi hiện nay còn lại rất hiếm, nhưng một số gia phả còn ghi. Tử vi còn có cả ngày giờ tháng năm.

Kết luận

Khôi phục việc họ là một trào lưu lớn của dân tộc ta trong mấy thập kỷ gần đây, tương lai vẫn còn là trọng tâm của công việc duy trì phát triển nền văn hóa dân tộc. Chăm lo việc họ thì công tác quan trọng hàng đầu là vấn đề gia phả. Công việc biên dịch khảo cứu, tục biên và phổ biến gia phả là một công việc lâu dài và phổ cập, họ nào cũng quan tâm. Trong đó đề tài chúng tôi nêu trên đây: “Khảo cứu niên đại các vị tiên tổ” là khâu quan trọng và cấp bách nhất, đó là chùm chìa khóa để đi tìm về cội nguồn lịch sử củâ từng dòng họ, đi tìm những gương sáng, những danh nhân lịch sử đang tiềm ẩn trong kho tàng lịch sử văn hóa dân tộc. Chịu khó đi sâu vào khảo cứu các gia phả các dòng họ, chúng ta còn khai thác được nhiều điều lý thú.

                                                          TÂN VIỆT - Hà Nội

                                                 (Theo hobuivietnam.com.vn)

(Ghi chú: Tân Việt là bút danh của cụ Lê Văn Duyệt, thuộc Họ Lê xã Tùng Ảnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh)