Tên đất tên làng cổ – Di sản văn hóa phi vật thể

1. Không riêng gì Thăng Long, phần đất miền Bắc Việt Nam từ bao đời nay, bên cạnh tên địa danh có hai âm tiết thì thường tồn tại một tên cổ có một âm tiết. Tên hai âm tiết thường là tên gọi chính thức trong các văn bản hành chính xưa và nay, có khi gọi là “tên chữ”, còn tên cổ chỉ lưu truyền trong dân gian, thường được gọi là “tên Nôm”. Ví dụ, Mọc là tên Nôm của khu vực Nhân Mục từ hàng trăm năm nay v.v…

Đã một thời, cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền coi nhẹ việc giữ gìn tên cổ, mà ngược lại, thường hay đặt ra các tên mới, hoặc văn hoa như Phú Lộc, Lộc Hà, hoặc có tính “thời đại” như: Quyết Tâm, Quyết Thắng, hoặc lấy địa danh cách mạng đặt vào: Điện Biên, Ấp Bắc, Bạch Đằng…, hoặc lấy tên anh hùng liệt sĩ cách mạng, anh hùng dân tộc đặt cho làng xã, tên đường. Xu thế này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay, tuy mức độ không còn cực đoan nữa.

Gần đây, khi các nhà văn hóa bắt đầu bàn bạc nhiều về giá trị văn hóa phi vật thể, mới dần dần có nhận thức khác về kho tàng văn hóa phi vật thể nói chung, trong đó việc nghiên cứu bảo tồn dân ca, tập quán, tín ngưỡng, phong tục đã có bước tiến lớn. Tuy nhiên, trong vốn cổ, có cả những địa danh cổ, thuần Việt đang ngày càng mất đi, thì mới thấy một di sản văn hóa hàng ngàn đời đang lãng phí. Trong dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, có một chuyên luận về xuất xứ tên Cổ Loa, thu hút hàng trăm chuyên gia văn hóa.

Một nhận thức chung từ thời phong kiến cho rằng, tên Nôm là “nôm na mách qué”, nên trong các văn bản thường áp đặt một “tên chữ”. Nhưng có một thực tế là, từ khi có chữ Hán vào nước ta, thành chữ chính thức của nhà nước, thì nhà nước cứ gọi theo tên nhà nước đặt, khi làm văn tự thì gọi theo triều đình, khi giao lưu dân cư thì cứ Nôm mà gọi. Cho nên, các tên Nôm nhờ vậy mà tồn tại xuyên thời gian cho đến nay không ai đếm được bao nhiêu năm, xuyên qua thời kỳ Bắc thuộc.

Quanh Hà Nội, bao nhiêu tên làng, tên đất còn giữ được tên cổ, đã đi vào ca dao, dân ca, sống cùng với trí nhớ các thế hệ, gắn bó với đặc sản của một vùng văn hóa. Ví dụ một câu ca dao tình cờ nhớ được:

“The La, lụa Vạn, vải Canh

Nhanh tay đi bán ai sành thì mua”

La là tên gọi vùng Kẻ La, gồm La Dương, La Nội, có tên chữ La Khê, nay thuộc ngoại thành Hà Đông, có nghề dệt nổi tiếng. Vùng La có hội La rất độc đáo, thường là đêm rã hội cho con trai con gái vui đùa thỏa thích, nên có câu tục ngữ “vui như hội Rã La”. Vạn nay là Vạn Phúc, làng lụa nổi danh ở Hà Đông. Canh là tên cổ của làng Phương Canh, Vân Canh có giống cam Canh rất nổi tiếng, xưa làm nghề dệt vải.

Đó chỉ là một trong rất nhiều địa danh nổi tiếng phía tây Hà Nội. Bốn Kẻ: Kẻ Mỗ, Kẻ La, Kẻ Canh, Kẻ Diễn thời xưa là vùng đất văn vật, sản vật tươi tốt, có đặc sản nhiều người biết, địa linh nhân kiệt.

Bây giờ đã thuộc nội thành, nhưng ngay từ thời xa xưa đã là những địa danh làng cổ: Mọc (Nhân Mục), Cót (Yên Hòa), Nghè (Nghĩa Đô), Vẽ (Đông Ngạc), Giấy (Cầu Giấy), Bưởi (Yên Thái, Võng Thị…), Noi (Cổ Nhuế), Mễ (Mễ Sở), Chèm (Từ Liêm), Mẩy (Mễ Trì), Đơ (Triều Khúc), Giàn (Trung Kính), Vòng (Dịch Vọng), Duệ (Dương Quảng Hàm)…

Đáng chú ý rằng các tên Nôm làng cổ quanh Hà Nội thường được gọi là Kẻ, như Kẻ Vẽ, Kẻ Noi, Kẻ Bưởi… Trong một bài báo từ lâu, nhà văn Tô Hoài cho rằng, tiền tố Kẻ là nơi an trí tù binh Chiêm Thành, từ ngoại thành Hà Nội cho đến Sơn Tây. Lý luận đó có vẻ không đứng vững được, vì không chỉ Sơn Tây, vùng đồng bằng gần Hải Dương có Kẻ Sặt và tiếng nói không hề giống giọng Sơn Tây.

Mặt khác, Thanh Hóa, Hà Tĩnh hay Việt Trì cũng có nhiều làng mang tiền tố Kẻ. Có một lý giải khác, có lẽ hợp lý hơn, Kẻ là tiếng cổ chỉ một cộng đồng người, là “họ”, “chúng nó”, “những người ấy”, ngày nay còn sót lại ngữ nghĩa ví dụ “kẻ anh hùng”, “kẻ ăn xin”… Lý giải này phù hợp với việc, người xưa gọi kinh đô là “Kẻ Chợ”. Từ kẻ không hề có ý xấu như biến nghĩa sau này. Kẻ Bưởi, chỉ có nghĩa là “những người ở vùng Bưởi”.
pic
Làng cổ Gia Lâm - Hà Nội - Tranh sơn dầu của Thanh Vũ

2. Ngày nay, rõ ràng các tên Nôm còn sót lại là một dạng “ký hiệu” mang nhiều thông tin văn hóa. Nó chính là di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc. Nếu nhìn nhận về mặt nào đó, đây chính là yếu tố thuần Việt đã sống qua cuộc đồng hóa văn hóa của đế quốc Hán phương Bắc. Có thể ban đầu, thời kỳ mới bị Hán hóa, một số tên châu quận của nước Nam Việt cũ (vùng Bách Việt của Triệu Đà) vẫn giữ tập quán âm cổ. Ví dụ: Châu Hoan, Châu Ái, Châu Giao…, ngay cả vùng Nam Trung Quốc, khi văn hóa Hán chưa ảnh hưởng đến, thì văn hóa Bách Việt vẫn sống, tên đất vẫn chỉ có một âm, ghép vào tên châu, quận: Quảng Châu, Thương Châu, Hàng Châu, Ngô Quận, Ung Châu, Nam Quận v.v…

Có một hiện tượng đáng ghi nhận, là các tên sông cho đến nay ở Việt hầu hết còn lại là tên Nôm một âm tiết. Nếu có biến thành Hán Việt thì thêm yếu tố “hà” hoặc “giang”.

Một đặc điểm chung là các tên cổ ban đầu chắc chắn là tên làng, đơn vị hành chính cơ sở của người Việt cổ. Sau này, chính quyền trung ương Hán hóa các tên cổ, thường chọn âm Hán gần giống với tên cổ, hoặc thêm một từ Hán vào yếu tố Nôm. Quy luật này không riêng ở Hà Nội, mà ở tất cả mọi vùng đất nước. Vòng biến thành Dịch Vọng, Mọc thành Nhân Mục, Hòa Mục, Chèm thành Từ Liêm, Canh thành Vân Canh, Diễn thành Phú Diễn, Bùng thành Phùng Xá v.v… Lại có tên như Đường Lâm, vùng đất cổ có tên là Mía. Từ Mía mà thành Cam Giá (Cam, từ Hán Việt nghĩa là ngọt), cũng là một cách liên tưởng thú vị. Tuy nhiên, cho đến nay, quy luật cấu tạo tên Nôm cổ thành tên Hán Việt cũng chưa được nghiên cứu rõ ràng. Cho nên các nhà nghiên cứu văn hóa mới bàn cãi khá lâu, tốn nhiều giấy mực về chỉ một địa danh Cổ Loa.

Do từ tên làng – mà làng dần nhập vào xã – mà tên Nôm hiện nay còn sót lại nhiều nhất là chỉ bến đò, cầu, giếng, chợ, chùa. Tên Bưởi còn lại là do có chợ Bưởi quá nổi tiếng. Tên Giấy còn lại là do có cầu Giấy. Tên Sở còn lại do có một cái… ngã tư. Nếu làm một cuộc khảo sát nghiêm túc, thì các bến đò, chợ phần lớn là tên Nôm cổ. Ngày nay, người ta làm cầu dần dần thay thế các bến đò, làm siêu thị thay cho chợ, thì nguy cơ tên cổ cũng mất đi.

Có nhất thiết phải đặt tên mới cho một địa danh nổi tiếng trong lịch sử hay không? Làng Vòng gắn liền với cốm Vòng từ hàng nghìn năm, ngày nay thành Dịch Vọng Hậu với đường Trần Thái Tông. Tại sao không còn lại một chữ Vòng ở vùng đó nhỉ? Hiện tại, Trung Hòa không còn là Cót, nhưng ký ức người Hà Nội vẫn còn nhớ đó là làng Cót nổi tiếng, Tại sao không tiếp tục mạch tư duy khi đặt tên đường như đường Láng?

Ngay các làng có tên Nôm cổ, cũng có hai cấp độ về sự “cổ”. Ngoài tên Nôm một âm tiết rất cổ, thì ngay tên chữ do các triều đại phong kiến đặt cũng là tên cổ. Ví dụ, Bưởi là Nôm cổ rồi, nhưng những Võng Thị, Yên Thái, Đông Xã, Trích Sài… về mặt nào đó cũng là cổ. Nhưng nay nếu làm cho chúng biến mất để biến thành tên khác, bất luận thế nào, cũng là một cách ứng xử văn hóa cần phải xem xét kỹ.

Một ví dụ nữa, làng Nhân Mục gắn liền với sản vật làng Mọc, và gắn liền với những trang chính sử về cuộc đại phá quân Thanh, hay các cuộc chiến tranh thời Lê - Mạc. Nhưng nay nếu đọc sử không biết Nhân Mục ở đâu, mà trên đó lại là tên một liệt sĩ nào đó, thì có nên không? Vị anh hùng liệt sĩ đó chắc cũng thấy công lao của mình không xứng với bề dày hàng nghìn năm văn hóa của đất nước, tổ tông.

Thực ra, tư duy cổ về tên đất kiểu “nôm na” một âm tiết thường vẫn sống mãnh liệt trong dân gian. Tên các xứ, lộ thời Lê như xứ Đông, xứ Đoài, xứ Thanh, xứ Nghệ, xứ Lạng vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Thậm chí có hiện tượng ví dụ như Hải Phòng, thì người dân lân cận vùng đó, cho đến những năm cuối thế kỷ trước, vẫn gọi đơn giản là Phòng. Đi Hải Phòng thì nói “đi Phòng”, “đến Phòng”, “ở Phòng”…

Quan niệm về “nôm na mách qué” thời xưa đã không còn nữa, thì việc phải làm gì để gìn giữ một chút vốn cổ này, là một việc cần có sự quan tâm ở quy mô lớn hơn. “Của tin còn một chút này…”, câu thơ cổ còn vọng lại cho hậu thế. Những địa danh một âm tiết, đọc lên thuần Việt, gợi nhớ truyền thống dân tộc, liên tưởng đến mạch nguồn truyền thống, chỉ làm cho việc tuyên truyền về lịch sử càng thuận lợi. Dân tộc ta có quá khứ rất nhạy cảm về sự giao lưu văn hóa, suốt hàng ngàn năm Hán hóa, hơn một trăm năm Pháp hóa, các vết đứt gãy văn hóa là hiện tượng tự nhiên, không thể chối được. Bỏ tên Nôm, thay tên Hán, bỏ chữ Nôm, thay chữ quốc ngữ hệ La tinh… là những vết đứt gãy ấy. Nếu không có ứng xử hợp lý với các địa danh cổ, chỉ càng làm cho sự đứt gãy văn hóa càng trầm trọng, làm cho việc dạy và học lịch sử càng nan giải.

                                               Nguyễn Xuân Hưng

                                                    (Hồn Việt)

          

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 17 Tháng 2 2017 03:59 )  

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay48
mod_vvisit_counterTất cả2056550

Hiện có 9 khách Trực tuyến

Liên kết website