Phong tục



Học gia phong từ gia tiên

Dân gian thường nhận định “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”. Từng gia đình có gia phong riêng thể hiện tính văn hoá của cả dòng họ trong sinh hoạt hàng ngày, và lúc gia phong ấy thể hiện rõ nhất chính là vào những dịp kỵ giỗ, lễ tết…

Đọc thêm...
 

Nghi lễ Cưới hỏi - Những điều cần biết (Tiếp theo)

3. Lễ cưới
Lễ cưới là đỉnh điểm của cả quy trình tiến tới hôn nhân, là hình thức liên hoan, báo hỉ mừng cô dâu, chú rể, mừng hai gia đình, có ý nghĩa rất thiêng liêng. Do đó, cả xưa và nay, mọi người đều rất coi trọng. Đây cũng chính là nghi lễ được dư luận xã hội quan tâm nhiều hơn cả. Lễ cưới chỉ được tổ chức sau khi đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 13 Tháng 3 2012 12:51 ) Đọc thêm...
 

Nghi lễ Cưới hỏi - Những điều cần biết

Từ xưa đến nay, người Việt chúng ta rất coi trọng việc tổ chức cưới hỏi. Tùy theo điều kiện kinh tế và phong tục tập quán của từng vùng miền mà mỗi người, mỗi gia đình chọn cho mình một hình thức tổ chức lễ cưới phù hợp. Nếu như ngày trước, nếu muốn tổ chức đám cưới phải trải qua 6 nghi lễ (theo tiếng Hán Việt là "lục lễ thành thân"), thì hiện nay, đám cưới truyền thống đã được giản lược đi, còn lại 3 nghi lễ quan trọng nhất là chạm ngõ (hay dạm ngõ), ăn hỏi, đón dâu (lễ cưới). Xin được giới thiệu vài nét về 3 nghi lễ đó để mọi người tham khảo.

Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 13 Tháng 3 2012 12:28 ) Đọc thêm...
 

12 giá trị sống cơ bản mà cha mẹ cần hình thành cho trẻ

Giá trị cuộc sống (hay còn gọi là giá trị sống) là những điều chúng ta cho là quý giá, là quan trọng và có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người. Giá trị sống trở thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó. Giá trị sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi người đều giống nhau.

20 nhà giáo dục đến từ năm châu lục tiến hành một hội thảo trước sự ủy quyền của UNICEP tại New York tháng 8 năm 1996, đã thảo luận và đi đến quyết định đưa ra 12 giá trị sống mà chúng ta cần hình thành cho trẻ đó là:

Đọc thêm...
 

Rằm tháng Giêng

Dân gian ta có câu: “Rằm tháng giêng ai siêng thì quảy, rằm tháng bảy kẻ quảy người không, rằm tháng mười, mười người mười quảy” để nói lên tập quán cùng sự hệ trọng của từng cái rằm.

Trái với lệ xưa, ngày nay rằm tháng bảy không phải “kẻ quảy, người không” mà trở thành phổ cập bởi đó là ngày lễ Vu Lan báo hiếu, tương tự ngày rằm tháng mười “mười người mười quảy” mang đậm ý nghĩa liên hoan mừng cơm mới sau một vụ mùa.

Trong mười hai cái rằm của một năm, riêng ngày rằm tháng giêng có nhiều ý nghĩa với nhiều nguyên thủy. Ngày này được gọi là lễ thượng nguyên, rằm tháng bảy là lễ trung nguyên và rằm tháng mười là lễ hạ nguyên. Rằm tháng giêng còn gọi là Tết Trạng nguyên và Tết Nguyên tiêu.

Theo Phật giáo thì ngày mồng một và ngày rằm hằng tháng được coi là ngày của Phật, các tín đồ đến ngày ấy phải đi lễ chùa. Rằm tháng giêng là rằm đầu tiên, nhiều người tin rằng ngày ấy đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng thành của phật tử, lại thêm cái không khí vui xuân còn đậm đà cho nên số người đi chùa đông đảo hơn, họ bảo: “Lễ Phật quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng”. Đây còn là ngày vía thiên quan, người ta đến chùa dâng sao để xin giải trừ tai ách.

Theo Nho học thì nguyên xưa ngày này là Tết Trạng nguyên. Nhân dịp trăng sáng đầu năm, nhà vua cho mở đại tiệc tại vườn thượng uyển, triệu các vị trạng nguyên đến dự hội, ngắm cảnh xem hoa làm thơ xướng họa, ca ngợi các vẻ đẹp thiên nhiên và ân đức nhà vua đã đem lại thái bình thịnh trị.

Dần dần những buổi họp mặt tương tự vào đêm rằm tháng giêng được các văn nhân thi sĩ tổ chức, không chỉ trong vườn thượng uyển với nghi lễ vua tôi mà ở nhiều nơi, việc xem hoa ngắm cảnh dưới trăng thoải mái hơn, những vần thơ xướng họa, đối đáp phong phú và sinh động hơn. Tết Nguyên tiêu hình thành, là một sinh hoạt tao đàn trang nhã.

Trong dân gian với số đông người theo phong tục thờ cúng ông bà thì rằm tháng giêng trước hết được hiểu một cách đơn giản là ngày rằm lớn.

Tùy theo tín ngưỡng và ngành nghề, có gia đình lễ bái chư Phật, có gia đình cúng thổ công, thần tài hoặc cúng âm hồn các đẳng... Nhưng luôn có cúng gia tiên, bày tỏ lòng hiếu kính với ông bà, cha mẹ, cảm ơn trên đã phù hộ cho con cháu an lành, làm ăn khá giả.

Đã là lễ tết, cúng bái thì đương nhiên có mâm cỗ để khi bái tất trong gia đình quây quần bên nhau hoặc mời thêm bà con chòm xóm.

Số gia đình theo đạo Phật cúng chay và ăn chay. Lễ vật dâng cúng thường dùng rau quả, trầu cau, chè xôi, các món đậu, canh xào...

Ở các chùa thôn quê, làng quê, cỗ bàn chỉ dùng tương chao, hoa quả nấu với đậu khuôn, đậu phụng, dầu phụng, không thêm nhiều hương liệu nên khi ăn người ta hay bảo nhau: ăn chay phải trộn nhiều món vào một tô mới ngon.

Thật vậy, từng món canh mướp, bí, bầu nấu riêng với đậu phụng sẽ trở nên đơn điệu song nếu trộn chung lại thành món canh tổng hợp ý vị. Chính những bữa ăn nguyên chất chay này với cây nhà lá vườn mới là những bữa ăn bổ dưỡng mà không độc hại.

Người ta cũng tránh chế biến thức ăn chay thay hình dạng tôm kho, thịt nướng, cho rằng làm như thế là cái tâm vẫn còn vọng tục, vẫn còn hướng về mặn, khó coi!

Làm thức ăn chay khó hơn thức ăn mặn. Tương ngon dùng gạo, nếp, đậu nành ủ mốc, phải vừa đủ mẳn, có vị ngọt, không chua, không hôi. Món chao và đậu dầm cũng phải khéo tay mới không có mùi khó chịu.

Ở miền Trung, nhiều người không theo đạo Phật thì ngày rằm cúng chè xôi và cúng mặn. Cỗ bàn mặn cũng gồm các món cơm canh tuy không thịnh soạn như ngày Tết Nguyên đán.

Nhiều làng quê ngày rằm, nhất là rằm tháng mười, cúng thịt vịt, bánh xèo và mì Quảng. Thông thường thì “nấu xôi nếp quạ, nấu chè đậu đen”. Nếp quạ màu đen, rất thơm dẻo. Thiên hạ cũng dùng nếp tượng nấu xôi. Nếp tượng màu trắng, hột lớn hơn các loại nếp khác.

Trong ý niệm dân gian, những gì lớn gọi là “tượng” (voi), những gì nhỏ gọi là “sẻ” (chim sẻ) như nếp tượng, xoài tượng, ốc trâu... hoặc ổi sẻ, xoài sẻ, trâm sẻ...

Gọi là xôi nhưng thực chất là cơm nếp. Chè nếp và đậu đen nấu với đường đen, có nêm chút muối. Phải chăng khi thưởng thức hương vị ngọt bùi, người ta vẫn cần thêm một chút mặn? Chè nấu thật “tới nước đường” thì để đến ngày sau không bị thiu.

Những chén chè đặt trên trang hàng tuần mới lấy xuống, trên mặt đóng một lớp mốc, gạt lớp mốc ấy đi, phần dưới vẫn ăn được. Trước đây, người đời hay dùng hai màu đỏ và đen.

Câu đối tết cũng viết bằng mực Tàu (màu đen) trên giấy đỏ. Màu đỏ tượng trưng cho sự tốt đẹp vui vẻ, màu đen là màu định hình cuối cùng, không pha chế được nữa. Dĩa xôi nếp quạ, chén chè đậu đen cũng là hai màu ấy. Nếp nấu với đường đen ngả ra màu hơi đỏ, trong chén chè điểm xuyết những hạt đậu màu đen...

Văn nhân thi sĩ, nhất là các cụ cao niên thì thưởng trăng thù tạc với nhau bằng chén trà, chung rượu, bàn cờ. Các cụ ăn uống ít, chỉ ngâm nga bàn tán những câu tâm đắc. Đúng như cái cảnh tuyệt vời thơ mộng của đêm nguyên tiêu:

Kỳ cục đả thanh phong giáp trận
Tửu hồ khuynh bạch tuyết hòa bôi

Dịch nghĩa theo lối thuận nghịch đọc là:

Chén hòa tuyết trắng nghiêng hồ rượu
Trận giáp phong thanh đánh cuộc cờ...

                               (ST)
 

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 25 Tháng 1 2012 10:08 )
 
Trang 2 trong tổng số 3

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay99
mod_vvisit_counterTất cả2056601

Hiện có 57 khách Trực tuyến

Liên kết website