Nghi lễ Cưới hỏi - Những điều cần biết (Tiếp theo)

3. Lễ cưới
Lễ cưới là đỉnh điểm của cả quy trình tiến tới hôn nhân, là hình thức liên hoan, báo hỉ mừng cô dâu, chú rể, mừng hai gia đình, có ý nghĩa rất thiêng liêng. Do đó, cả xưa và nay, mọi người đều rất coi trọng. Đây cũng chính là nghi lễ được dư luận xã hội quan tâm nhiều hơn cả. Lễ cưới chỉ được tổ chức sau khi đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Trước đây, người ta gọi lễ này là lễ rước dâu. Ngày nay, trong ngôn từ của đời sống thường ngày, người ta gọi lễ này là lễ cưới (hôn lễ). Điều đó chứng tỏ vị trí rất quan trọng của lễ này trong hệ thống hôn lễ. Ý nghĩa của lễ này là : Công bố sự thành hôn của đôi trai gái, vì thế lễ này còn gọi là lễ thành hôn.

Trong tâm thức người Việt từ xưa cho đến ngày nay thì lễ cưới (chứ không phải tờ hôn thú) có ý nghĩa thiêng liêng và giá trị pháp lý cao nhất. Tùy điều kiện kinh tế và phong tục tập quán mà các gia đình chọn hình thức tổ chức lễ cưới phù hợp. Tuy nhiên, dù theo hình thức nào thì lễ cưới vẫn cần tuân thủ các nghi lễ sau:

Lễ xin dâu: Trước giờ đón dâu, mẹ chú rể sẽ cùng một người thân trong gia đình đến nhà gái đem cơi trầu, chai rượu để báo trước giờ đoàn đón dâu sẽ đến, nhà gái chuẩn bị đón tiếp.

Rước dâu : Dù đoàn rước dâu của nhà trai có đi bằng phương tiện gì đi chăng nữa thì trước khi vào nhà giá cũng phải "chấn chỉnh đội hình". Thông thường, đi đầu là đại diện nhà trai (là người cao tuổi, khéo ăn, khéo nói, có vị thế xã hội), tiếp đến là bố chú rể, chú rể và bạn bè (mẹ chồng thường không đi đón con dâu, thậm chí khi cô dâu về đến nhà chồng, mẹ chồng ngồi trong nhà chờ con dâu vào chào rồi mới ra tiếp khách).

Trước đây, khi đoàn đón dâu đến trước ngõ nhà gái, nhà trai báo hiệu bằng một tràng pháo và khi nào nhà gái đáp lại bằng một tràng pháo khác thì nhà trai mới được vào và có một tục khác là tục chằng dây cũng có tác dụng tương tự. Ngày nay, ở một số nơi vẫn còn giữ được tục này nhưng có sự cải biên “tân tiến” hơn, vui vẻ hơn: Nhà gái bố trí vài em nhỏ bụ bẫm, xinh xắn, mặc áo đỏ (hay thắt lưng, nơ đỏ) chăng dây chờ sẵn ở trước nhà gái khoảng độ 20-30m. Khi nhà trai đến, một trong các em nhỏ chạy về báo cho nhà gái biết. Nhà trai chuẩn bị một ít kẹo để phân phát cho lũ trẻ chăng dây này (khi đã nhận được kẹo bọn chúng sẽ rút dây để đoàn nhà trai đi vào nhà gái). Đây cũng là một nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt ta.

Sau khi đã vào nhà gái, nhà trai được mời an tọa. Hai bên giới thiệu nhau, sau một tuần trà, đại diện nhà trai đứng dậy có vài lời với nhà gái xin chính thức được rước cô dâu về.

Nhà gái đáp từ : Sau khi được "các cụ" cho phép, chú rể mới được vào phòng trong để trao hoa cho cô dâu và cùng cô dâu đến trước bàn thời thắp nén hương rồi ra chào bố mẹ, họ hàng hai bên. Cha mẹ cô dâu dặn dò đôi vợ chồng trẻ về cách sống, về tình yêu thương, về đạo lý vợ chồng. Vị đại diện nhà trai đáp lời thay cho chú rể và xin rước dâu lên xe. Nhà gái cùng lên xe về nhà trai dự tiệc cưới.

Về đến nhà trai: Trước đây, khi xe hoa (đám rước dâu) về tới cửa, nhà trai đốt pháo mừng. Nay, không có pháo nữa, người ta phải thế vào đó bằng cách khởi nhạc sống hoặc mở băng nhạc để tạo không khí vui vẻ, long trọng để nghênh tiếp cô dâu và nhà gái.

Đầu tiên, cô dâu và chú rể được cha mẹ dẫn đến bàn thờ để thắp hương yết tổ (lễ gia tiên), rồi chào họ hàng bên chồng. Sau đó là lễ tơ hồng, (ngày nay, lễ tơ hồng không còn là một nghi thức. có tính bắt buộc nữa) tùy từng gia đình, lễ này có thể làm, có thể không). Tiếp theo, cô dâu được dẫn vào phòng cưới, ngồi lên chiếc giường cưới do một người được nhà trai chọn sẵn (mắn con) trải chiếu. Cuối cùng, nhà trai mời nhà gái và tất cả những người tham dự ăn tiệc cưới.

Ở thành phố, tiệc cưới được tổ chức tại nhà hàng, còn ở nông thôn, phần lớn tiệc cưới tổ chức ngay tại nhà trai; cỗ cưới do gia đình tự làm hoặc đặt cho các nhà hàng mang đến.

Về trang phục:

- Chú rể : complet, cài hoa trước ngực.

- Cô dâu : áo dài hoặc váy cưới theo mốt châu Âu, màu trắng hoặc màu kem

Một số đám cưới, cô dâu chú rễ sử dụng trang phục truyền thống khăn đóng áo dài.


Về biểu trưng: Có nhiều hình ảnh được dùng làm biểu trưng trong đám cưới như đôi chim bồ câu, đèn lồng, trái tim, chữ lồng, mặt hai người hôn nhau... nhưng phổ biến nhất vẫn là chữ song hỷ. Cho đến nay, và có lẽ mãi mãi, biểu trưng song hỷ vẫn là biểu trưng của đám cưới. Người không hiểu chữ Hán nhìn vào chữ này cũng hiểu và cảm nhận được ngay. Cũng phải khẳng định thêm rằng chữ song hỷ đã được đúc kết từ hàng ngàn năm, nó đã đạt đến độ hoàn thiện về ý nghĩa xã hội và thẩm mỹ.


Về đồ mừng cưới : Xưa, các cụ ta có tục mừng đỡ, nay, người đến dự đám cưới tặng đôi vợ chồng trẻ cái gì đó cũng là điều hiển nhiên. Vấn đề đáng quan tâm là về phương diện văn hóa: Tặng quà cưới thế nào để người tặng và người nhận đều giữ được lễ. Quà cưới và tặng quà cưới cần phải thể hiện tính trang trọng. Vì vậy, quà phải được bọc giấy điều, dù là tiền cũng phải được bọc trong phong bì đẹp. Trong đám cưới, cần có ban lễ tân (thường là người thân) đứng ra nhận quà mừng. Cần tránh việc cô dâu - chú rể vừa đi chào mọi người vừa nhận tiền mừng. Hiện nay, hầu hết các tiệc cưới đều có “trái tim hạnh phúc” để khách bỏ phong bì tiền mừng. Kể cũng thật tiện.
                                          (ST)

Từ khóa: cưới hỏi, lễ cưới, chạm ngõ, ăn hỏi

Xem thêm: Lễ chạm ngõ

Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 13 Tháng 3 2012 12:51 )  

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay118
mod_vvisit_counterTất cả2056967

Hiện có 59 khách Trực tuyến

Liên kết website