Tang lễ - Những điều cần biết

Sinh lão bệnh tử là quy luật lẽ thường của tự nhiên, cái chết không loại trừ bất cứ ai. Việc tổ chức tang lễ cho người thân quá cố là vấn đề đang được mọi người quan tâm. Ở các thành phố, thị xã thì tang lễ hầu như do các nhà tang lễ đảm nhiệm; nhưng ở nông thôn thì hầu hết đều do gia đình cùng với làng xóm đứng ra tổ chức nên về hình thức mỗi nơi mỗi cách với nhiều thủ tục rườm rà.
Từ thực tế tổ chức các đám tang ở một số địa phương và các tài liệu sách báo, chúng tôi xin cung cấp cho bạn đọc một số điều cần biết về tang lễ để mọi người tham khảo.

1. Công việc chuẩn bị trước khi người thân lâm chung
* Dấu hiệu báo trước:
Đối với những người già yếu, thường có những dấu hiệu báo trước cái chết sắp đến:
- Đã nhiều ngày mê mệt, bỗng nhiên trở lại tỉnh táo, dặn dò con cháu nhiều điều; có thêt nói liên tục trong hàng tiếng đồng hồ. Đặc biệt đôi mắt trở nên sáng hẳn lên, như có nước. Muốn ăn (uống) những thức thường dùng khi khỏe mạnh nhưng chỉ nếm qua một tí nhưng không ăn được nữa. Trường hợp này giống như ngọn đèn cạn dầu bỗng lóe lên cộc lát trước khi tắt.
- Mạch rất trầm, có khi người còn sống nhưng không bắt mạch được nữa. Đối với người suy tim, sờ tưởng như tim đã ngừng đập, nhưng vì đập yếu nên không phát hiện được.
- Tay quờ quạng (có nơi gọi là bắt chim chim), chân co duỗi như muốn dặt xuống đất (hạ thổ).
- Có người đầu óc còn tỉnh táo liên tục hỏi “đã chuẩn bị xong chưa”, “mấy giờ rồi” (như chọn giờ để ra đi)…
- Sờ chân tay thấy lạnh dần, người sắp chết thường lạnh từ chân trở lên. Có người còn nhận biết mình đã chết đến đâu.
* Những việc người nhà cần làm lúc này:
- Sửa soạn lại chổ nằm (dọn bớt đồ đạc, vật dụng xung quanh; chuyển người sắp mất sang vị trí thuận lợi cho việc khâm liệm…)
- Luôn luôn có người túc trực bên cạnh.
- Người có theo tôn giáo thì làm lễ cầu nguyện theo phép của từng tôn giáo.
- Đưa quan tài ra kiểm tra, lau chùi sạch sẽ.
- Chuẩn bị mọi thứ để tắm gội (làm lễ mộc dục), khâm liệm (lễ nhập quan)
- Chuẩn bị khăn áo, hương hoa… cho lễ thành phục
2. Những việc cần làm ngay sau khi thân nhân mất:
- Khi đã tuyệt khí, vuốt mắt người chết rồi đưa thi hài xuống đất, gọi là hạ thổ. Việc tiếp đất này là hấp lấy sinh khí đất, xem có hồi dương - (sống lại) không. Sau đó đưa lên giường, lấy một chiếc đũa đặt giữa hai hàm răng, để sau làm lễ phạm hàm được dễ; nếu không, sau phải lấy cái lược cậy hàm răng mới làm phạm hàm được.
- Trường hợp mất tại bệnh viện hoặc mất dọc đường, quán trọ, chết vì tai nạn không đủ điều kiện để thực hiện toàn bộ thao tác và nghi lễ, vậy nên châm chước, tuỳ nghi vận dụng
* Lễ mộc dục: (tắm gội)
- Lúc tắm gội cho người vừa chết thường vừa để sẵn một con dao nhỏ, một vuông vải (khăn), một cái lược, một cái thìa, một ít đất ở ông đồ rau, một nối nước ngũ vị hương và một nồi nước nóng khác. Lúc tắm, vây màn cho kín, tang chủ quỳ xuống khóc, người hộ việc cũng quỳ rồi cáo từ rằng; "nay xin tắm gội để sạch bụi trần", xong phục xuống, đứng dậy.
- Cha thì con trai vào tắm, mẹ thì con gái vào tắm. Lấy vuông vải dấp vào nước ngũ vị, lau mặt, lau mình cho sạch rồi lấy lược chải tóc lấy sợi vải buộc tóc, lấy khăn khác lau hai tay hai chân, lại lấy dao cắt móng tay móng chân, mặc quần áo cho chỉnh. Móng tay móng chân gói lại trên để trên, dưới để dưới, để vào trong quan tài; dao, lược thìa và nước đem đi chôn; rước thi thể đặt lên giường.
- Đắp chăn hoặc chiếu, buông màn, đặt một chiêc ghế con phía trên đầu, trên đó đặt một bát cơm úp, một quả trứng, dựng một đôi đũa trên bát cơm và thắp hương. Có địa phương còn có tục để thêm một con dao trên bụng, (có lẽ để trừ tà ma hay quỷ nhập tràng).
* Lễ phạn hàm: (có nơi gọi là ngậm sạn)
Lễ này theo tục xưa, bỏ gạo và tiền vào miệng tránh tà ma ác quỷ đến cướp đoạt, để tiễn vong hồn đi đường xa được siêu thoát. Lễ này ngày nay nhiều nơi đã bỏ, có nơi thay thế bằng may một cái túi, trong túi đựng một ít tiền gạo và một vài đồ lặt vặt mà khi sống, người đó hay dùng đến.
Theo "Thọ mai gia lễ", lễ này được tiến hành như sau:
Lấy ít gạo nếp xát cho sạch, ba đồng tiền mài cho sáng (nhà giàu thì dùng vàng hoặc viên ngọc trai).
Tang chủ vào khóc quỳ, người chấp sự cũng quỳ, cáo từ rằng: " nay xin phạn hàm, phục duy hâm nạp". Người chấp sự lần lượt xướng "Sơ phạn hàm, tái phạn hàm, tam phạn hàm". Tang chủ thực hiện ba lần, mỗi lần xúc một ít gạo và một đồng tiền tra vào mồm bên phải, rồi đến bên trái, cuối cùng vào giữa. Xong, bóp mồm lại, phủ mặt như cũ.
3. Lễ khâm liệm nhập quan:
Tục lệ nhiều nơi rất coi trọng giờ nhập quan. Vì thế, ngay sau khi người thân mất, người nhà nhờ thầy cúng xem giờ nhập quan.
Đúng giờ đã chọn, người thân trong gia đình (trừ những người vướng tuổi) vào làm lễ, con trai bên trái, con gái bên phải. Người chấp sự xướng: Tự lập (đứng gần vào), cử ai (khóc cả lên), quỳ. Chấp sự cũng quỳ mà cáo từ rằng "Nay được giờ lành, xin rước nhập quan". "Cẩn cáo" xong lại xướng: phủ phục (lễ xuống), hưng (dậy), bình thân (đứng thẳng).
Sau đó các con cháu tránh ra hai bên, người giúp việc thực hiện đưa người đã mất vào quan tài một cách nhẹ nhàng, êm ái. Thi thể đặt chính giữa quan tài, nếu có hở chỗ nào cần lấy áo cũ của người vừa mất bổ khuyết cho đầy đủ, rồi gấp dưới lên đầu trước, bên trái gấp trước, bên phải gấp sau, trên đầu gấp sau cùng, sơn nẹp đóng lại. Chú ý: Những quần áo của người đang sống, hoặc quần áo mà người đang sống có mặc chung thì kiêng không được bỏ vào áo quan.
Tục gọi hồn: Người gọi hồn cầm áo của người chết ra sân hoặc ngoài đường, quay bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc và gọi. Đàn ông thì gọi “ba hồn bảy vía ông…về nhập quan”. Đàn bà thì gọi “ba hồn chín vía bà…về nhập quan”. Xong bỏ áo người chết vào quan tài, coi như hồn người chết đã về nhập quan.
Đóng nắp quan tài, quàn đặt trên hai cái giá cao khoảng 40 – 50cm. Dưới quan tài thường để hai khúc thân cây chuối.
Trên nắp quan tài có bát cơm úp, đôi đũa tre để rua kẹp quả trứng luộc, cắm vào bát cơm. Người chết là đàn ông, trên nắp quan tài để 7 khúc chuối con để cắm hương, kèm theo 7 ngọn nến. Người chết là đàn bà, trên nắp quan tài để 9 khúc chuối con để cắm hương, kèm theo 9 ngọn nến.
Phía trước quan tài là bàn thờ vong đã chuẩn bị. Đèn nến, hương trên bàn thờ vong và nắp quan tài thắp liên tục đến khi đưa đi an táng.
Sau khi gọi hồn nhập xác, đóng nắp quan tài và tiến hành làm Thiết linh và Thành phục và phát tang ngay.
4. Lễ thiết linh và thành phục
Lễ thiết linh là lễ thiết lập linh vị, đặt bàn thờ tang.
Khi chưa chôn cất thì lấy lễ thờ người sống mà lễ, nên mỗi lần lạy chỉ lạy hai lạy, trong linh vị và khăn vấn dùng chữ "Cố phụ", "Cố mẫu" thay cho "Hiền khảo", "Hiền tỷ".
Lễ Thành phục - Mặc áo tang, chính thức chịu tang từ giờ phút này.
Trước hết đánh ba hồi chín tiếng trống đại, hội nhạc tang tấu lên khúc nhạc bi ai báo hiệu Lễ phát tang bắt đầu, cũng là để báo cho cộng đồng dân cư biết. Sau phát tang đến phúng viếng và chia buồn với tang chủ.
Con cháu chịu tang đứng trước bàn thờ vong, theo thế thứ trong gia tộc. Tang chủ đứng giữa. Chủ Lễ bắt đầu cuộc lễ. Hiện nay phần lớn đều do thầy cúng thực hiện việc này.
Nội dung Lễ phát tang chủ yếu nêu nỗi đau buồn, tiếc thương vô hạn của người sống đối với người đã khuất. Nhớ lại công lao trời biển của Cha Mẹ, đã vất vả nuôi con cháu trưởng thành. Kể tên đầy đủ người chịu tang gồm con, cháu, dâu, rể anh em…
Thực hiện nghi thức thắp hương và dâng rượu, nước cho người đã khuất thụ hưởng, cũng là thể hiện lòng thành báo hiếu của con cháu, dâu rể đối với Ông, Bà, Cha, Mẹ…
Sau khi lễ hoàn tất, tang chủ ra đứng bên bàn thờ vong, để đáp lễ khách phúng viếng. Các con trai thay nhau đứng túc trực; con gái, con dâu vào ngồi hai bên quan tài.
Trước khi thành phục, nếu có khách đến thì người chủ tang chưa ra tiếp mà người hộ tang thay mặt tiếp khách và thông cảm với khách.
Sau lễ thành phục mới chính thức phát tang. Sau đó thân bằng cố hữu, làng xã mới đến phúng viếng.
* Tang phục:
- Con chịu tang cha mẹ, vợ chịu tang chồng: - Áo xô, khăn xô có hai giải sau lưng (gọi là khăn ngang). Nếu cha mẹ đều đã mất thì hai giải bằng nhau, nếu còn mẹ hoặc còn cha thì hai giải dài ngắn lệch nhau.
- Con trai chống gậy: Tang cha gậy tre, tang mẹ gậy vông, mũ rơm quấn đầu, dây chuối, dây đai thắt lưng.
- Cháu chịu tang ông, bà, anh em chịu tang nhau… chít khăn trắng tròn
* Trống kèn
Dân ta có câu: “Sống dầu đèn, chết kèn trống!” Xem vậy đủ biết, trống kèn trong tang lễ không thể thiếu được.
Trong đám tang, kèn trống chỉ bắt đầu từ Lễ phát tang, cho đến khi an táng xong về nhà làm lễ cúng an vị bàn thờ người mới mất là kết thúc. Thực hiện nếp sống Văn hóa, từ 21 giờ kèn trống ngừng, chỉ bắt đầu sau 5 giờ sáng để khỏi ảnh hưởng tới cộng đồng.
Hội kèn trống còn có cách gọi khác là “Ban nhạc Hiếu”, hay “Phường bát âm”. Tiếng trống kèn được coi là những lời khóc than, thương tiếc của con cháu và cũng là âm thanh tiễn đưa hồn người chết về nơi chín suối với ông bà tổ tiên.
Một số nơi đã thực hiện thu băng đĩa các bài nhạc tang để dùng trong tang lễ.
Một số nơi có tập tục, người chết trẻ không có nhạc tang, chỉ đánh trống lúc phát tang và khi an táng.
5. Lễ cúng sáng tối
Từ xưa vẫn cho rằng khi chưa an táng, còn quàn quan tài ở nhà, coi như cha mẹ còn sống. Trong ngày, buổi sáng và buổi tối vấn an thăm hỏi và mời bố mẹ xơi cơm, đi ngủ như thường vậy! Việc cúng này bây giờ cũng đơn giản, đến bữa dọn mâm cúng, thắp hương thành tâm khấn mời bố mẹ dùng bữa!
6. Lễ động quan
Đêm trước hôm an táng, thường vào giờ Tý (23 – 24 giờ) thực hiện động quan, tức là nâng quan tài lên và đặt xuống ba lần, cũng có thể xoay nghiêng hai bên. Việc làm này như một động tác trở mình của cha mẹ còn đang ngủ.
7. Phúng viếng
Phúng viếng là biểu hiện tình cảm sâu nặng của những người trong họ tộc, của bà con trong xóm, ngoài làng ở cộng đồng dân cư và của các cơ quan đoàn thể đối với người quá cố; đến chia buồn với gia đình và tỏ lòng thương cảm, thắp nén tâm nhang để vĩnh biệt người đã khuất. Dù bận rộn đến đâu cũng thu xếp về, không quản đường xá xa xôi cố gắng đến kịp trước giờ an táng với tấm lòng “nghĩa tử là nghĩa tận!”.
Để việc phúng viếng được tốt và chu đáo, ban lễ tang bố trí rạp, bàn ghế và trầu, thuốc, nước cho khách chờ. Thỉnh thoảng đọc tiểu sử, lai lịch người quá cố và thời gian biểu lễ truy điệu, lễ an táng cho mọi người đều biết.
Có bàn đăng ký các đoàn viếng, sắp xếp lịch trước sau; có người xếp vòng hoa, các câu đối, bức trướng phúng.
Tang chủ luôn túc tực bên quan tài để đáp lễ. Một người hộ việc tang chủ, quan sát khách viếng để thắp hương, rồi đưa hương cho từng người đến viếng.
Ban Lễ tang đọc thông báo cho gia đình và mọi người biết, các tập thể và cá nhân đến viếng. Ban nhạc hiếu tấu lên khúc nhạc ngắn trong khi đoàn vào, rồi dừng cho khách nói lời chia buồn với tang chủ và thắp hương. Người đến viếng vái hai vái, (vì chưa an táng coi như vái người đang sống). Tang chủ đáp lễ, cũng vái hai vái.
- Về Câu đối phúng viếng:
Ngày trước hay đi câu đối, nội dung câu đối hợp với cảnh nhà, cảnh người đã khuất và mối thâm tình của người viếng. Các nhà nho, văn nhân kẻ sĩ, quan chức thường làm câu đối phúng viếng bạn bè thân hữu qua đời.
Bây giờ câu đối phúng có chiều hướng ít đi, cũng là điều đáng tiếc. Một nét đẹp Văn hóa, nên chăng cần được khuyến khích khôi phục lại.
- Về bức Trướng:
Các Đoàn thể, cơ quan đơn vị và các gia đình thông gia, thường làm bức trướng. Với nội dung sát thực như: “Vô cùng thương tiếc…” rồi ghi tên đơn vị, đoàn thể và gia đình ông bà…Kính viếng!.
Hiện nay bức trướng thường xử dụng mầu đỏ, thực ra chưa được hợp cách với mầu tang chế. Mầu tang chế của Việt nam là hai mầu đen trắng. Trước đây điều này quy định rất chặt chẽ. Hàng con cháu, câu đối phúng bao giờ cũng làm bằng vải trắng.
- Tiền phúng viếng:
Ngày trước thường hay viếng rượu, vàng, hương. Có đám tới vài trăm chai rượu. Bây giờ tục viếng rượu đã thôi hẳn. Người đi viếng chủ yếu là tiền bỏ trong phong bì, có thể thêm vàng hương. Xét ra, cũng là việc nghĩa, góp một phần cho tang chủ, với ý nghĩa đó thì không sao cả.
- Vòng hoa tang:
Phần lớn các đơn vị, tổ chức, cơ quan, dòng họ… làm vòng hoa tang viếng. Cách thức và kiểu dáng mỗi vùng không giống nhau. Miền Bắc thường làm vòng hoa hình bầu dục nổi vồng cao lên. Miền Nam lại làm vòng tròn, có từ một đến ba vòng đều phẳng. Trên vòng hoa là một băng vải đen chữ trắng, ghi rõ đơn vị cơ quan hoặc người chủ viếng…
Phúng viếng là một nét đẹp Văn hóa trong phong tục Việt nam. Thể hiện tình cảm sâu nặng của những người đang sống với người đã từ giã cõi đời. Hãy để cho một linh hồn được thanh thản và siêu thoát trở về nơi cực lạc.
Nên điều chỉnh việc phúng viếng từ câu đối, bức trướng đến tiền và vòng hoa có giới hạn, thật sự là một nét đẹp Văn hóa trong cộng đồng. Sao cho khỏi lãng phí và thực sự trong sáng.
8. Lễ truy điệu và an táng
Đây là nghi lễ quan trọng của một đám tang. Tùy thuộc vào vị trí xã hội mà có những nghi thức khác nhau. Thông thường, ở vùng nông thôn, phần lễ này được thực hiện theo theo trình tự sau:
* Cúng lễ trước khi di quan, còn gọi là lễ “tiễn biệt”.
Đây là việc của gia đình. Thầy cúng hoặc tang chủ cùng con cháu nội ngoại thực hiện Lễ tiễn biệt người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng.
Mọi người theo thế thứ trong nội ngoại gia tộc, xếp hàng trước bàn thờ vong. Thầy cúng hoặc tang chủ thực hiện các bước thắp hương dâng rượu, nước, trang nghiêm như lễ phát tang và đọc lời ai điếu tiễn biệt lần cuối. Con cháu thành kính vái lễ.
* Làm Lễ truy điệu.
Đây là việc của Ban Lễ tang thay mặt Đoàn thể, chính quyền hoặc cơ quan đơn vị… làm sau lễ Tiễn biệt của gia đình. Bà con trong cộng đồng dân cư, cơ quan đơn vị… và bạn bè thân hữu tập trung trước bàn thờ vong.
Đại diện Ban Lễ tang lên tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu và mời Trưởng ban Lễ tang lên làm chủ lễ.
Chủ lễ trang phục tề chỉnh, trịnh trọng tiến vào bàn thờ vong, thắp ba nén hương rồi vái hai vái. Tang chủ đáp lễ cũng vái lại hai vái. Phường bát âm nổi trống kèn. Mọi người lặng im trong không khí lễ tang.
Chủ lễ bắt đầu hành lễ, đọc điếu văn. Nội dung điếu văn chủ yếu nói về thân thế sự nghiệp, công lao đóng góp của người đã mất với cộng đồng và xã hội; công lao sinh thành dưỡng dục con cháu nội, ngoại trưởng thành; nỗi đau buồn của gia đình và mọi người từ nay mất một người thân…
Đại diện Ban lễ tang tuyên bố một phút mặc niệm tiễn biệt người đã khuất.
Mọi người mặc niệm lần cuối một phút, rồi lần lượt theo sự điều hành của Ban lễ tang dâng hương tiễn biệt lần cuối.
Di quan
Trước khi di quan, đại diện gia đình nói lời cảm ơn các cơ quan, tổ chức, bà con, bạn bè đến thăm hỏi, phúng viếng và đưa tang.
Bà con trong nội tộc và bạn bè… cùng nâng quan tài bằng tay hoặc đặt trên vai, dưới sự chỉ huy của một người cầm hai thanh tre (phách) gõ hiệu lệnh. Yêu cầu làm sao cho quan tài luôn thăng bằng, đến mức chén rượu để trên nắp quan tài không sánh ra giọt nào. Khi di quan phải thật sự chậm rãi, từ từ từng nửa bước chân một. Vừa thể hiện nỗi đau tiễn biệt muốn níu kéo lại, cũng là vừa đảm bảo cho quan tài luôn được thăng bằng.
Một số nơi thành lập đội tùy từ 6 đến 8 người, áo quần đồng phục một mầu, có giầy, mũ và găng tay, làm công việc di quan ra xe tang. .
Trên đường đưa tang, nhiều nơi vẫn còn tục rải vàng mã. Nên chăng cần giảm bớt tiến tới bỏ hẳn đi để bảo đảm vệ sinh môi trường.
Đi đầu là đoàn người vác cờ tang. Tiếp theo là xe chở vòng hoa, trướng, Linh xa, kèn, trống. Rồi đến xe chở quan tài. Nhà táng thường làm bằng khung tre nứa, dán giấy mầu, vẽ các hoa văn và hình rồng úp trên quan tài. Ngày nay, ở nhiều vùng nông thôn nhà táng được làm bằng khung sắt lợp tôn để trên xe tang dùng chung cho các các đám tang. Sau cùng là đoàn người đi đưa tang.
Trên đường đoàn đưa tang thường dừng nghỉ ở một số điểm như ở đầu làng để người quá cố từ biệt…
Hạ huyệt
Đến nơi hạ huyệt, đặt hai đòn tre ngang qua huyệt. Di quan tài đặt trên hai đòn tre. Lồng hai giây chão chắc chắn dưới quan tài, dùng khi hạ quan tài cho thuận tiện.
Sau khi ổn định các thứ mang theo, mọi người đứng xung quanh. Đúng giờ đã định, bắt đầu hành lễ. Trước hết là Lễ cáo Thổ thần xin cho người chết được nhập mộ, rồi đến lễ hạ huyệt. Con cháu, người thân bỏ nắm đất vĩnh biệt sau đó lui ra để bộ phận nội cựu thực hiện công việc đắp mộ.
Tiếp đến là chôn bia tạm, để bát cơm cúng, chén rượu trên mộ, thắp hương trước bia và trên mộ, xếp vòng hoa tang chung quanh.
Tang chủ có lời cảm ơn mọi người đã đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng chu đáo.
Con cháu, người thân đi vòng quanh mộ, thắp hương tiễn biệt lần cuối người ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng và rước linh xa về làm lễ cúng an vị ban thờ.

Lễ tang kết thúc

                                                          Họ Bùi Tùng Ảnh

 

 

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1939
mod_vvisit_counterTất cả2850280

Hiện có 28 khách Trực tuyến