Cụ Tổ của họ Phan Đình ở Thanh Hưng, Thanh Chương chính là Cụ Bùi Khản họ Bùi Tùng Ảnh ?

 Ngày 16/8/2019, ông Phan Đình Hà sinh năm 1968, đời thứ 18 của họ Phan Đình tại Thanh Hưng, Thanh Chương, Nghệ An; hiện đang công tác tại Huyện ủy Thanh Chương, Nghệ An đã có thư ngỏ gửi các bậc cao niên Họ Bùi Tùng Ảnh và các bậc cao niên trong Đại tộc Phan Đình  (Thanh Chương) một số vấn đề về việc xác minh nguồn gốc tổ tiên. Website Họ Bùi Tùng Ảnh xin trân trọng giới thiệu.

Kính gửi các bậc cao niên họ Bùi ở Hà Tĩnh

Kính gửi các bậc cao niên trong Đại tộc Phan Đình (Thanh Chương- NA)

Trước hết, tôi xin mãn phép được giới thiệu, bản thân là Phan Đình Hà, sinh năm 1968, đời thứ 18 của họ Phan Đình tại Thanh Hưng, Thanh Chương, Nghệ An; hiện đang công tác tại Huyện ủy Thanh Chương, Nghệ An.

Là người hay tìm hiểu về nguồn gốc của tổ tiên, qua nghiên cứu, bản thân phát hiện thấy một số vấn đề, xin được trình bày như sau:

I- NGUỒN GỐC CỦA HỌ PHAN ĐÌNH

 Cuốn gia phả lâu đời nhất của họ Phan ở Thanh Hưng, Thanh Chương, Nghệ An được lập năm 1901, có chứng kiến của 4 vị lý trưởng lúc đó. Cuốn gia phả này đã sao chép lại phần đầu của cuốn gia phả trước đó vì đã rách nát nhiều. Theo cuốn gia phả này thì, hai vị Thần Tổ họ Phan cùng làm quan trong một đời vua, vào cuối đời Trần lánh nạn, di cư tới xã Nông Na, huyện Nam Đường, sáng lập cơ nghiệp ở thôn Diên Trường, tiểu hiệu là xứ Dương Bạn. Đến đời Lê Quang Thiệu (1516-1522), tách thôn Tha Lễ của xã Nông Na lập thành xã Hiến Lãng. Ở chân núi Nhà Hằng, Tổ đã lập trường học cho con cháu dân ấp học hành, khởi xướng nền văn minh bản xứ. Cơ sở trường học là một khu gồm vườn và ruộng, từ trên đỉnh núi tới ba bậc gò đồi tiếp theo, lấy rãnh nước làm giới cận mang tên xứ Trường Học, hiệu là học sơn (Núi Học).

Trang 24, 25 của Gia phả Họ Phan Đình được ông Bùi Văn Chất (hiện sống tại Vinh) dịch ra như sau:

“Sự tích truyền rằng, có ông họ Bùi tên Khản người xã Việt Yên, nay là xã Yên Trung, huyện La Sơn, tị loạn, ẩn cư tại xã Nông Na huyện Nam Đường. Ông Khản trúng tiến sỹ, Trần triều thái học sinh, làm quan tới chức Bộ Binh Thượng thư, thăng Thập tam đạo hành khiển. Thời ấy quốc sử có câu: Hành khiển cao phong minh vũ trụ/ Nghĩa vương chính khí tráng sơn hà (nghĩa là: Hành khiển, phong thái thanh cao, tiếng vang vũ trụ; Nghĩa vương khí tiết, chí vững sơn hà).

Con Khản là Tiên, Tiên làm quan tới Hình bộ Thượng thư. Vào thời Trần Mạt – Lê sơ, không rõ Tiên di cư tới xứ nào. Bất truyền.

Lại kính cẩn chép sự tích Bùi tướng công, phụ tử đồng triều, thời ấy hai ông được Hoàng tử Trần nuôi dưỡng, lập trường học ở thôn Phúc Thái, xã Yên Trung, phía đông Mai Hồ. Cơ chỉ gồm một ao hương hỏa, tục gọi Ao Hỏa; Trước học đường có giếng, do tướng công đào, gọi là Giếng Học. Trường tọa lạc phía Đông lị sở Phủ Đức Thọ ngày nay (1901- diễn giải của người viết).

Xét về Bùi Hành khiển, người La Sơn và Phan Hành khiển họ ta, tên – họ khác nhau, song, Bùi công sự tích minh bạch mà mộ phần bất truyền, con cháu không nghe nhắc tới; Trong khi, Phan công nhà ta, các đời trước không truyền, mà gia trạch, phần mộ hãy còn, miêu duệ phồn thịnh. Ý như, Bùi Hành khiển, đương khi tị loạn, đã thay họ ẩn danh, mà đặt ra thế ấy. Nay trở thành Tỉ tổ họ Phan ta. Việc chưa rõ lắm”.

Hiện nay ở Nhà thờ Họ Phan Đình (xã Thanh Hưng, Thanh Chương Nghệ An) còn lưu giữ được 6 đạo sắc, minh chứng cho công lao, chức vụ của 2 vị Thần Tổ.

1- Đạo sắc Cảnh Hưng 44 (1783 – được phong trước khi cuốn gia phả nêu trên hoàn thành 118 năm). Dịch nghĩa:

“Sắc, phong cho vị Đại thần Bản xứ An dân, Lợi vật Quản Sơn Tây Hàn lâm từ trời cao sinh đức, từ đỉnh núi giáng thần, mệnh mang trời cao, từ muôn thủa khói hương phụng tự; Sáng suốt uy linh, cùng ba quân gắng gỏi công lao. Đã từng nghĩ tới công huân nên phải thưởng phong theo điển lễ.

Nhân dịp “tự vương” tiến phong vượng vị, tới ngự chính cung, có lễ nâng bậc, xứng bao phong “một chữ đẹp”. Nay phong là “Bản xứ An dân, Lợi vật Quản Sơn Tây Hàn lâm Hiển thánh đại thần, đại vương. Nay

Sắc

Cảnh Hưng năm thứ 4 tháng 7, ngày 26

“Sắc mệnh chi bảo”

2- Đạo sắc Thành Thái năm thứ 2 (1890 – được phong trước khi cuốn gia phả nêu trên hoàn thành 11 năm). Dịch nghĩa:

“Sắc cho thôn Ngọc Hiên, xã Hiến Lãng, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phụng sự vị thần “Giám sát ngự sử kiêm Thập đạo thừa tuyên hành khiển”, nghiệm thấy linh ứng, trước nay chưa được dự phong. Nay thừa theo mệnh sáng, ghi nhớ công đức của thần, bèn phong là “Vị thần Dực bảo Trung hưng Linh phù”, chuẩn cho phụng sự như cũ. Thần cùng giúp rập bảo hộ dân ta. Hãy vâng mệnh!

Thành Thái năm thứ 2, tháng 2, ngày 20.

“Sắc mệnh chi bảo”

3- Đạo sắc năm Duy Tân thứ 3 (tức là năm 1909, được phong sau khi cuốn Gia phả hoàn thành 8 năm). Dịch nghĩa:

“Sắc chỉ, phong cho xã Hiến Lãng, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An từ trước phụng sự vị thần “Dực bảo Trung hưng Linh phù Giám sát ngự sử kiêm Thập tam đạo hành khiển thừa tuyên” và vị thần “Dực bảo Trung hưng Linh phù An dân Lợi vật” từng được ban cấp Sắc phong, chuẩn y cho phụng sự. Nhân dịp năm đầu vua Duy Tân lên ngôi, tiến hành đại lễ, theo lễ nâng cấp bậc, Đặc chuẩn cho phụng sự như cũ để ghi nhớ ngày quốc khánh mà tế tự theo khuôn phép. Hãy vâng mệnh

Duy Tân năm thứ 3, tháng 8, ngày 17.

“Sắc mệnh chi bảo”

4- Đạo sắc Khải Định năm thứ 9 (1924 – được phong sau khi cuốn gia phả nêu trên hoàn thành 23 năm). Dịch nghĩa:

“Sắc, phong cho thôn Ngọc Hiên, xã Hiến Lãng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An theo trước phụng sự vị tôn thần “Nguyên tặng Dực bảo Trung hưng Linh phù, Bản xứ Học Sơn, Giám sát ngự sử, lịch sỹ Hiến sứ kiêm Thập đạo thừa tuyên hành khiển”, có công hộ quốc, cứu dân, nghiệm có linh ứng, đã từng ban cấp sắc phong, chuẩn cho phụng sự. Nhân dịp Trẫm Tứ tuần đại khánh, từng ban bảo chiếu đàm ân, lễ nâng cấp bậc, nay gia tặng cho thần (danh hiệu) “Đoan túc Tôn thần”; Đặc chuẩn phụng sự để ghi nhớ ngày vui của cả nước mà chăm lo việc tế tự theo đúng khuôn phép.

Hãy vâng mệnh

Khải Định năm thứ 9, tháng 7, ngày 25

“Sắc mệnh chi bảo”

Toàn bộ nội dung trên đã được đăng trên Văn hóa Nghệ An số 221 – ngày 25 tháng 5 năm 2012.

II- THÔNG TIN CỦA HỌ BÙI TÙNG ẢNH – HÀ TĨNH

Trên địa chỉ hobuitunganh.org.vn có giới thiệu một đoạn trích Bài Tựa Gia phả Họ Bùi của cụ Bùi Truyền viết năm 1870 như sau:

“Từ cụ thuỷ tổ họ Bùi ta người Quảng Hoá (Thanh Hoá) đến ở xã Quyết Việt xưa; Nay là xã Việt Yên Hạ. Quyết Việt xưa nay chia làm 3 thôn: Việt Yên Hạ, Yên Đồng, Yên Trung. Nghe nói từ đời Trần trong họ có anh em Bùi Tụy, Bùi khản hoặc là thượng thư bộ Hộ, hoặc là Thượng thư bộ Binh lại truyền gọi là hành khiển họ Bùi (hành khiển là chức quan to đời Trần). Về sau tên gọi chức quan mỗi đời chia ra, tung tích người mỗi đời cũng khác nhưng chưa phải đã là xa lắm. lớp sau có thể ghi biết được...

Trên Cổng thông tin điện tử Họ Bùi Hà Tĩnh (địa chỉ: hobuihatinh.com.vn) có bài giới thiệu về Dòng họ Bùi Đức Thọ (đăng ngày 25/8/2016), trong đó có đoạn viết:

“Dòng họ Bùi gốc bản địa có từ thời Việt cổ ở xã Cổ Quyết Việt (Sau này là Việt Yên Hạ, Yên Toàn, Yên Trung. Nay thuộc Đức Yên, Tùng Ảnh, Thị trấn Đức Thọ).Thủy Tổ của họ này là Bùi Lạo (Gọi là ông Hư Vô), truyền đến nay đã trên 20 đời. Theo gia phả, đến đời thứ tư có Bùi Tụy làm đến Thượng thư Bộ Hộ em là Bùi Khảm làm đến Thượng thư Bộ Binh. Dòng họ này thời Nho học có đến 10 người đỗ Hương cống, Cử nhân, là: Bùi Công Đán, Bùi Công Trung, Bùi Sĩ Liêm, Bùi Hi(Tức Bùi Đình Nho), Bùi Truyền, Bùi Nham, Bùi Đô, Bùi Diệp, Bùi Thọ (Sau đổi thành Bùi Thứ), Bùi Ân (Sau đổi thành Bùi Viết Tâm).

III- MỘT SỐ SUY ĐOÁN VÀ LUẬN BÀN

1- Ông Bùi Khản mà gia phả họ Phan Đình đã nêu là ông Tổ của họ Phan Đình

Bởi vì:

- Ông Bùi Khản trong “sự tích” mà gia phả họ Phan nêu là người làm quan thời TRẦN và ông ông Tổ của họ Phan (đạo sắc ghi rõ) cũng làm quan cùng được gọi là HÀNH KHIỂN. Hành Khiển là chức quan giúp việc cho Tể tướng, chỉ đời Trần mới có.

- Ông Bùi Khản trong “sự tích” mà gia phả họ Phan nêu trước đó dạy học ở Yên Trung, ngài đào giếng gọi là “GIẾNG HỌC”. Ông Tổ của họ Phan cũng dạy học ở Nông Na, ngài khai khẩn một quả đồi gọi là “NÚI HỌC”.

Việc đặt tên “GIẾNG HỌC”, “NÚI HỌC” thể hiện bản chất hiếu học của một người mà cũng có thể là dấu vết Tổ tiên để lại để sau này con cháu lần tìm nguồn cội.

- Việc ghi chép về “sự tích” của ông Bùi Khản vào trong gia phả của họ Phan kỹ lưỡng như thế chắc không phải là một vệc làm ngẫu hứng, tùy tiện. Rất có thể vì sợ tru di tam tộc nên Tổ tiên họ Phan (gốc họ Bùi) phải thay tên đổi họ nhưng vẫn muốn con cháu tìm về cội nguồn nên truyền miệng nhiều đời và sau này con cháu mới ghi là “Sự tích”.

Vì vậy, Ông Bùi Khản mà gia phả họ Phan Đình đã nêu là ông Tổ của họ Phan Đình.

2- Ông Bùi Khản mà gia phả họ Bùi Tùng Ảnh nhắc đến là người họ Bùi Tùng Ảnh

Gia phả họ Bùi Tùng Ảnh (1870) chép rằng: “Nghe nói từ đời Trần trong họ có anh em Bùi Tụy, Bùi Khản hoặc là thượng thư bộ Hộ, hoặc là Thượng thư bộ Binh lại truyền gọi là hành khiển họ Bùi (hành khiển là chức quan to đời Trần). Về sau tên gọi chức quan mỗi đời chia ra, tung tích người mỗi đời cũng khác nhưng chưa phải đã là xa lắm. Lớp sau có thể ghi biết được...” chúng ta thấy

- Thứ nhất, việc Cụ Bùi Truyền viết như vậy không phải là việc làm vô căn cứ, chứng tỏ trong họ trước đó đã biết rõ về việc này. Nếu thông tin đó là vô căn cứ thì con cháu họ Bùi, nhất là thế hệ sống cùng cụ Bùi Truyền sẽ có tranh luận rồi.

- Thứ 2, thông tin mà cụ Bùi Truyền nêu trong gia phả năm 1870 rất chi tiết, đủ họ, tên, chức quan và triều đại của 2 ông Bùi Tụy và Bùi Khản. Vì trước đó họ Bùi Tùng Ảnh chưa viết gia phả thì con cháu biết được phải là từ “nghe nói” mà thôi. Truyền miệng từ đời này qua đời khác là hình thức lưu truyền thông tin phổi biến của thời xưa.

Như vậy, Ông Bùi Khản mà gia phả họ Bùi Tùng Ảnh nhắc đến là người của dòng họ mình. Vì lý do gì đó mà dòng họ Bùi chỉ truyền miệng về ông Bùi Khản để con cháu trong họ sau này dễ bề chắp nối.

3- Ông Bùi Khản trong gia phả họ Bùi Tùng Ảnh nhắc tới và ông Bùi Khản mà gia phả họ Phan nhắc tới là một người. Bởi vì:

- Về họ, tên: Cả gia phả họ Bùi và gia phả họ Phan đều nói là họ Bùi, tên Khản.

- Về quê quán: Đều là người La Sơn, Đức Thọ. Tuy gia phả họ Phan ghi là xã Việt Yên, nay là xã Yên Trung. Gia phả họ Bùi ghi là Việt Yên Hạ, và Việt Yên Hạ, Yên Đồng, Yên Trung đều được tách ra từ Cổ Quyết Việt nên sự sai lệch này có thể là do thời điểm ghi chép mà thôi.

 - Về chức vụ và triều vua: Cả 2 gia phả đều ghi là Thượng thư Bộ Binh (gia phả họ Bùi còn ghi vấn thêm là Thượng thư Bộ Hộ) và là Hành khiển triều Trần.

Một triều đại (nhà Trần) không thể có 2 ông Hành khiển (giúp việc cho Tể tướng) cùng là họ Bùi, tên Khản được.

- Về thời điểm ghi chép của 2 cuốn gia phả: Gia phả họ Bùi Tùng Ảnh ghi chép năm 1870. Gia phả họ Phan ghi chép năm 1901 (sau gia phả họ Bùi 31 năm). Gia phả họ Phan lại chép lại của cuốn gia phả trước đó, do đó thời gian nhắc tới của 2 cuốn gia phả là tương đồng.

- Về số đời: Đến nay (2019) họ Bùi truyền đến đời thứ 21, họ Phan cũng đời thứ 21. Theo gia phả họ Bùi, ông Bùi Khản là đời thứ 4, nếu ông Bùi Khản là ông Tổ họ Phan thì họ Phan là đời 25, chênh lệch nhau 4 đời. Trong một họ lớn, các nhánh chênh lệch nhau 4 đời là bình thường, hiện ở họ Phan, có người đời thứ 17, có người đã là đời thứ 21.

- Cha mẹ của ông Tổ họ Phan Đình là người Hà Tĩnh. Trong cuốn gia phả họ Phan do ông Phan hóa viết năm 2009, có căn cứ vào các cuốn gia phả trước đó ghi rõ:

“Đến năm Thiệu Long (Trần Thánh Tôn) Ngài (ông Tổ đời thứ 2 của họ Phan) vâng mệnh cha về Việt Yên huyện La Sơn Hà Tĩnh lấy mả cha mẹ Hầu Giám (Hầu Giám là ông Tổ đời thứ nhất của Họ Phan) ra di táng tại núi Trộ, Tri Lễ” (nay là thôn Thanh Tân xã Thanh Hưng, Thanh Chương, Nghệ An).

- Về không gian, từ Tùng Ảnh đến Thanh Hưng khoảng 60 km đường chim bay, nhưng cách đây mấy trăm năm, khi chưa có cầu bắc qua sông Lam và sông La, đường lớn chưa có, thì việc đi lại đâu dễ dàng. Trên không gian này, biết bao nhiêu là dòng họ, tại sao lại chỉ họ Bùi và họ Phan ghi vào gia phả “sự tích” y hệt nhau?

Từ những kiến giải trên, có thể khẳng định rằng ông Bùi Khản mà gia phả của họ Bùi (Hà Tĩnh) và họ Phan (Nghệ An) đều nhắc đến một người, cùng họ Bùi, tên Khản, làm đến chức Thượng thư Bộ Binh, thăng là Hành khiển triều đại nhà Trần.

III- KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1- Rất có thể ông Tổ của họ Phan Đình ở Thanh Hưng, Thanh Chương, Nghệ An là ông Bùi Khản mà gia phả họ Bùi Tùng Ảnh, Hà Tĩnh đã nêu.

2- Kính đề nghị con cháu 2 họ cần hợp tác nghiên cứu, tìm hiểu thêm để đi đến kết luận cuối cùng và nếu có cơ sở thì HỢP HỌ. Có lẽ đó là mong mỏi của tiền nhân và cũng là trách nhiệm của hậu thế.

Tất nhiên, còn một số vấn đề khác, xin được trao đổi vào dịp khác.  Nếu có gì mạo phạm và sai sót, rất mong được  hai Họ lượng thứ.

                                                                                                      Kính thư

                                                                                                   Phan Đình Hà

                                                                                  (ĐT 0982408944, 0919830228)

 

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2727
mod_vvisit_counterTất cả3289237

Hiện có 53 khách Trực tuyến